Port of loading là gì?

Port of loading là thuật ngữ chỉ địa điểm hãng tàu nhận hàng để xuất. Và tùy vào việc thanh toán bằng LC hay TT mà yêu cầu hãng tàu để thể hiện cho phù hợp hoặc book tàu cho đúng yêu cầu LC.

Ví dụ: hàng xuất hạ ICD Phước Long 3, nhưng sau đó được vận chuyển để giao cho tàu cập cảng ở Cát Lái thì khi đó Place of Receipt là ICD Phước Long 3 và Port of Loading là CAT LAI PORT, HO CHI MINH.

Ngoài ra, còn một số thuật ngữ khác liên quan như:

  1. Place of Receipt- Nơi nhận hàng từ người gởi hàng.
  2. Port of Discharge – Cảng dỡ hàng
  3. Place of Delivery – Nơi giao hàng tại cảng đích ở nước nhập khẩu.
  4. Final Destination – Nơi giao hàng cuối cùng tại nước nhập khẩu.
  5. Sea – Waybill- Giấy gửi hàng đường biển: Là chứng từ vận tải đường biển mà người chuyên chở lập và ký phát cho chủ hàng, xác nhận đã nhận và vận chuyển số hàng đã ghi trong ấy. Giấy gửi hàng được dùng trong quan hệ giữa người chuyên chở và người thuê tàu, có tác dụng như một biên lai giao nhận hàng và một hợp đồng vận tải đã được ký kết. Nó không được coi là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu hàng hóa và do đó không được các ngân hàng chấp nhận là một chứng từ thanh toán ngoại thương. Đó là điểm khác biệt giữa giấy gửi hàng và vận đơn đường biển
  6. Shipping Marks – nhãn mác của nhà Sản xuất ghi trên bao bì xuất khẩu: Là ký hiệu về nhãn mác liên quan đến lô hàng xuất khẩu, các thông tin này do nhà sản xuất cung cấp và in trên bao bì. Mục đích tránh nhầm lẫn với các lô hàng khác trong quá trình vận chuyển.
  7. Shipped or on board Bill of Lading-Vận đơn hàng đã xếp xuống tàu: Là loại vận đơn chỉ được người chuyên chở hoặc đại diện của họ ký phát cho người gửi hàng sau khi hàng đã được xếp xuống tàu. (Xem: Bill of Lading).
  8. Through Bill of Lading-Vận đơn chở suốt: Là loại vận đơn cấp cho lô hàng được chở từ cảng gửi hàng đến cảng đích mà dọc đường hàng được chuyển tải từ tàu này sang tàu khác hoặc trung chuyển từ phương thức vận tải này sang phương tiện của phương thức vận tải khác. Tùy theo thỏa thuận của hợp đồng mà người cấp vận đơn chở suốt có thể chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong suốt quá trình vận chuyển hay là chỉ chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong cung đoạn vận chuyển do mình thực hiện mà thôi.
  9. Straight Bill of Lading-Vận đơn đích danh: Là vận đơn ghi đích danh tên người nhận hàng mà không kèm theo chữ “Theo lệnh”. Như vậy, chỉ có người này mới có quyền nhận hàng đã nêu trong vận đơn. Vận đơn đích danh là loại vận đơn không thể chuyển nhượng bằng cách ký hậu (Non-endorsed bill of lading) (Xem: Bill of lading)
  10. Stevedore-Công nhân bốc dỡ hàng: Tại các cảng, công nhân bốc dỡ được phân công việc bốc dỡ theo đội hoặc nhóm (Team): Nhóm làm việc tại thềm bến (Apron team), nhóm làm việc tại miệng hầm (Hatch team) và nhóm làm việc trong hầm hàng (Hold team).
  11. TEU (Twenty feet equivalent unit)-Đơn vị container bằng 20 foot: Là đơn vị container cỡ 20’ (foot) được dùng làm tiêu chuẩn đo lường sức chứa container của con tàu và tính cước chuyên chở.
  12. Transit Time-Thời gian trung chuyển: Là thời gian được dùng để chuyển đổi hàng hóa/container từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác.
  13. Weight Constraint – trọng lượng qui đổi giữa khối lượng và trọng lượng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *